Tục thờ Đức Thánh Hiền tại Miền Bắc

tuong-duc-thanh-hien

Đại đa số người đi lễ chùa đều tới lễ lạy ban Thánh Hiền nhưng lại không biết đó là ai?  Đây là điều rất đáng tiếc!

Ở miền Bắc trong chùa có nhiều ban, ban thờ Đức Ông, ban thờ Đức Thánh Hiền….

Không biết từ bao giờ, tập tục thờ tại miền Bắc thông thường một bên là Đức Ông, một bên là Đức Thánh Hiền.

Thánh Hiền chẳng phải ai khác chính là Tôn giả Anan (hay Ananda). Thầy vốn là em chú họ của Đức Phật. Khi thầy xin Phật cho xuất gia, thầy cũng đặt điều kiện với Phật phải tuyên lại một lần nữa tất cả pháp mà Phật đã nói khi thầy chưa gia nhập Tăng đoàn. Khi đại chúng đề cử thầy làm thị giả (trợ lý) cho Phật thì thầy cũng đưa ra 8 điều kiện thể hiện thái độ hết sức khiêm nhường, trong đó có “Xin Đức Tôn Sư hãy lặp lại những giáo ngôn, những pháp thoại trong trường hợp tôi không có mặt tại chỗ để nghe”.

tuong-duc-thanh-hien
Tượng Đức Thánh Hiền

Tôn giả có trí nhớ phi phàm. Thầy có thể ghi nhớ toàn vẹn những gì Phật thuyết, không bỏ sót dù chỉ một từ không. Vì thế, khi Phật nhập Niết-bàn, đại chúng suy cử thầy làm người trùng tuyên (nói lại) những điều Phật đã dạy để hội tập (biên tập) thành kinh [để truyền miệng (vì thời đó chưa có giấy)]. Tuy nhiên Trưởng lão Ca-diếp không đồng ý vì Tôn giả Anan bấy giờ mới chứng quả đầu tiên trong 4 Thánh quả là Tu-đà-hoàn (Nhập vào dòng Thánh), trong khi đó đại chúng 500 người kết tập kinh điển đều đã chứng quả thứ 4 là A-la-hán (Vô Sinh). Tôn giả Anan biết được Huynh Trưởng không có phép mình tham gia kết tập thì hết sức buồn bã, tự trách mình, và quyết định nhập thất thiền định. Ngày thứ 7 sau khi nhập thất, Tôn giả hoát nhiên đại ngộ, vượt chứng lên bậc La-hán. Biết được điều đó, Trưởng lão Ca-diếp quyết định mời Hiền giả Anan lên tòa trùng tuyên Pháp Phật. 500 vị La-hán ngồi dưới dự thính. Nếu thầy Anan nói 1 lời nào không như Pháp Phật nói thì các vị khán thính lập tức phản đối ngay. Vì thế, Tôn giả Anan thuyết lại kinh Phật với sự đồng thuận của tất cả 500 vị La-hán.

Đồng thời thầy cũng là người hiếu học, học rộng bậc nhất (đa văn). Trong kinh Pháp Hoa, Phật nói rằng xưa kia Ngài và Tôn giả cùng tu, Ngài vì chuyên cần tu học nên nay đã chứng thành Phật quả, còn thầy Anan đa văn nên giờ vẫn còn ở bậc hữu học (còn phải học tiếp). Đây là khai thị hết sức quan trọng của Đức Phật. Chuyên cần tu hành (sửa đổi) mới là cửa ngõ chứng đạo. Học rộng, biết nhiều chưa phải là cứu cánh (chỗ rốt ráo).

Tôn giả vì chú trọng việc học (từ Học nghĩa là bắt chước) nhiều nhưng lại xem nhẹ việc tu thiền (Thiền tức là định, nghĩa là tâm không bị ngoại cảnh xoay chuyển khi chúng thay đổi), cho nên khi nhận lời thí chủ thỉnh mời thọ trai riêng lẻ thì thầy đã không tự chủ được mình trước dâm thuật của nữ Ma-đăng-già (Ma-đăng-già nghĩa là hạ tiện, ô uế) [thầy Anan rất đẹp trai, lại nói năng ôn tồn, nhu hòa, thường chiếu cố tới những người bần khổ], suýt đánh mất giới thể. May nhờ thần lực của Phật cùng chú Thủ Lăng Nghiêm mà thầy mới được toàn vẹn trở về giáo hội. Trong nhiều pháp hội, thầy thường tự trách lỗi mình vì đa văn mà chểnh mảng việc tu tâm, vì ỷ y vào quan hệ huyết thống thân thuộc với Phật mà cho rằng không cần thật hành cũng được nương phước lực của Phật mà giải thoát. Chính vì thầy mà Phật thuyết chú Lăng Nghiêm cùng kinh Lăng Nghiêm, là kinh có vai trò rất quan trọng trong Kinh Tạng.

tuong-duc-thanh-hien14

Tuy nhiên, trong kinh Vô Lượng Thọ, khi thấy Phật phóng quang minh chưa từng có, Tôn giả biết thời cơ đã đến, liền đứng ra thưa hỏi: “Đức Thế Tôn đang nhớ chư Phật quá khứ, chư Phật hiện tại, hay chư Phật tương lai?”. Thầy Anan hỏi được điều vi diệu như thế chứng tỏ thầy chẳng phải người bình thường, chẳng phải chỉ là bậc Sơ Quả. Thực ra Tôn giả là bậc Pháp Thân Đại Sĩ thừa nguyện tái lai để hộ Phật tuyên Pháp.

Sau khi kết tập kinh điển, Tôn giả kế thừa Sơ Tổ Ca – Diếp làm vị Tổ thứ hai của Thiền Tông. Ngài trụ thế 120 năm, thị tịch giữa sông Hằng.

Vì công đức kết tập kinh điển (khải giáo) và duy trì mạng mạch Thiền Tông, Ngài được cung kính thờ tự tại ban Thánh Hiền tại hầu hết các chùa ở miền Bắc. Ngoài ra ban Thánh Hiền còn đại diện cho chư Tăng, biểu hiện cho nghiêm trì giới luật và hoằng pháp. Ban Đức Ông đại biểu cho cư sỹ nghiêm trì năm giới tại gia và hộ pháp. Hoằng hộ tương sinh tương đồng.

Một số người cho rằng Thánh Hiền là chỉ Đại Sư Huyền Trang đời Đường vì Ngài có công thỉnh và dịch kinh. Điều này có căn cứ. Hành trạng của hai vị thầy khá giống nhau. Cho nên có người cho rằng Đại Sư Huyền Trang cũng như Sư Huyền Quang (Đệ Tam Tổ Trúc Lâm Việt Nam) là hóa thân của Tôn giả, xét ra là khả dĩ.

Pho tượng tạc hình một vị Tăng đầu đội mũ hoa sen, tay phải bắt ấn Cát tường hoặc ấn Vô úy, tay trái để ngửa trong lòng, ngồi thả chân chứ không xếp bằng như tượng Phật, Bồ tát.

Xét về tổng quan, tượng này đại diện cho tất cả các vị Thánh trong Phật giáo đã có công lưu truyền, hoằng bá Phật pháp nói chung. Về cụ thể, thì tượng được coi là tượng thờ riêng Tôn giả A Nan Đà, vì ông là đại đệ tử có công lớn nhất trong việc kết tập kinh sách, nên được coi là vị Thánh Tổ tiếp tục truyền bá phát triển Phật giáo. Do đó nhiều chùa đề tên tượng này là A Nan

Hai bên tượng Thánh hiền có hai thị giả. Nhiều chùa thì hai thị giả này có hình dáng dữ tợn, một bên mặt đen sì hoặc xanh lè gọi là Tiêu Diện Đại sỹ, một bên trắng hơn là Quỷ vương. Tượng Tiêu Diện đại sĩ tượng trưng cho Bồ tát hóa thân xuống địa ngục để cứu độ chúng sinh nơi đó, nhưng để phù hợp với cõi địa ngục nên mặt mũi cũng hung dữ, dù có tâm Phật. Do đi khắp các cõi ngục, nên lửa địa ngục thiêu cháy mặt Bồ tát, mặt trở thành đen hoặc xanh. Quỷ vương sau khi nghe được Phật pháp từ Tiêu Diện cũng phát nguyện hộ pháp cõi địa ngục. Do đó hai tượng này bày ngang với nhau.

——————————————————

Địa chỉ: Số 10 đường Đình Hát Thôn Hàn – Làng Nghề Sơn Đồng – Hoài Đức – Hà Nội.

Hotline: 0879.555.111

Fanpage: Đồ Thờ Đức Hiệp Sơn Đồng

Youtube: Đồ Thờ Đức Hiệp Sơn Đồng

Website: https://dothoduchiep.com/

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Call Now

0
    Giỏ hàng